Tản Ðà, thi sĩ của "thực" và "mộng"

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: st
Người gửi: Ninh Hong Loan (trang riêng)
Ngày gửi: 23h:08' 14-01-2010
Dung lượng: 61.0 KB
Số lượt tải: 7
Nguồn: st
Người gửi: Ninh Hong Loan (trang riêng)
Ngày gửi: 23h:08' 14-01-2010
Dung lượng: 61.0 KB
Số lượt tải: 7
Số lượt thích:
0 người
Tản Ðà, thi sĩ của "thực" và "mộng"
Hoài Việt Hoài
Thường tình thì chất lãng mạn trong thơ của Xuân Diệu thật khó đi đôi với lối phê phán hiện thực của Nguyễn công Hoan ; tính hài hước của Tú Mỡ cũng khác với kiểu tả chân độc đáo của Nguyễn Tuân. thế mà tất cả những văn thi sĩ đó đều nhận mình chịu ảnh hưởng của Tản Đà (1) ; ngay cả nhà viết tiểu thuyết lịch sử nổi tiếng là Nguyễn Triệu Luật cũng cho rằng : nếu mình làm nên sự nghiệp gì thì cũng là nhờ đọc Tản Đà hồi còn trẻ. Điều đó nói lên Tản Đà thật là một con người đa dạng : lãng mạn và hiện thực, hài hước và phê phán, hưởng lạc và yêu nước. Sự đa dạng về khuynh hướng đã đưa ông đến sự đa dạng về thơ, ông làm đủ loại thơ : đường luật, ca trù, thơ bảy chữ, thơ tự do.. Tản Đà là người có những dòng thơ "phong phú, lắm vẻ, đủ trang hoàng cho cả một giai đoạn văn học "(2), "người mà trong thi nghiệp của mình, đã một mình làm được cơn gió lạ "(3). Chúng ta sẽ cùng tìm hiểu người đó qua những khuynh hướng thi ca của ông . I. MỘT TÂM HỔN LÃNG MẠN Các nhà phê bình hiện đại đều đồng ý đặt Tản Đà làm gạch nối giữa hai thế hệ thơ cũ và thơ mới. Vì tuy xuất thân từ nề nếp Nho Phong cũ (4), tuy thông thạo các thể thơ cổ từ năm 14 tuổi, nhưng ông lại có một tâm hồn lãng mạn, sáng tạo ra những câu thơ không xa lạ lắm với dòng thơ mới về thể điệu, hình ảnh, ngôn ngữ, và nhất là tâm tình. Có lẽ sự lãng mạn đã có từ buổi thất tình với nàng Đỗ Thị ở phố Hàng Bồ, cộng thêm sự hỏng thi năm Nhâm Tý (1912) khi ông tròn 23 tuổi, đã đưa ông vào những "Giấc mộng con " và "Giấc mộng lớn", mơ lên hầu trời, gặp các danh nhân, đàn hát với các mỹ nhân, đi du lịch Âu Á . Và ở đây, chúng ta thấy cái lãng mạn của Tản Đà có phần khác các nhà thơ xưa, đã đành rằng ông chán nản vì thất tình, công danh lận đận, sống nghèo khổ. nhưng ông không ngồi thở than cùng trăng hoa mây gió, cũng không đến với thuyết Lão Trang để coi đời là bụi bặm, nơi ở trọ, và sống dửng dưng, ẩn dật. Nhưng là thái độ ham sống, mơ ứơc lên trời để giãi bày tâm sự với Hàn Thuyên, Nguyễn Trãi trong "Giấc mộng con ", là đi du lịch khắp nơi học hỏi cái hay của xưa người trong "Giấc mộng lớn ", là thích chơi : thơ, rượu, và ăn uống . Ai đã hay đâu tớ chán đời Đời chưa chán tớ, tớ còn chơi . (Còn chơi ) Và chính thái độ lãng mạn có vẻ tích cực này, đã đưa tài nghệ của nhà thơ lên cao, xứng đáng là "bậc đàn anh " của những nhà thơ mới, với những câu thơ tuyệt diệu: Trên trời Chức Nữ cùng Ngưu Lang Một giải sông Ngân lệ mấy hàng . (Thu khuê oán ) Như những thi sĩ của dòng thơ mới,ông nói nhiều về cái tôi của mình, nhưng là cái "tôi " thật dễ thương : Người ta hơn tớ cái phong lưu Tớ cũng hơn ai cái sự nghèo . Và cùng với ái tình, cái "tôi ", Tản Đà cũng nói nhiều về thiên nhiên với những hình ảnh và cách dùng chữ thật thần tình : Con sông chạy buột về Hà Nhớ ai Hà Nội trông mà ngùi thương . Nhưng đẹp nhất, giầu hình ảnh và nhạc điệu nhất, và biểu trưng cho thơ lãng mạn của Tản Đà là bài thơ "Tống biệt " . Đây là bài thơ các Tiên nữ tiễn đưa Lưu Thần và Nguyễn Triệu từ Thiên Thai trở về hạ giới; thế nhưng toàn bài chả thấy Tiên và cũng chả thấy người. Tác giả chỉ vẽ cảnh tiên cùng với những câu dài ngắn khác nhau như những "bước đi một bước, giây giây lại dừng " làm đậm thêm lòng lưu luyến; rồi thời gian như "nước chảy, huê trôi "sẽ làm cho cõi Tiên trở thành giấc mơ của một "trời đất từ nay xa cách mãi ", chỉ còn "bóng trăng chơi "một mình cô độc, "thơ thẩn " ở cõi trời, cõi đời, và ở trong lòng người. Nói như nhà văn Trương Tửu:"Trong nghề thơ có ba điều khó nhất : tả cái vô hình, tả cái bất động, và tả cái tối mù ; thì Tản Đà đã làm được hai :tả cái vô hình trong bài "Tống biệt ", tả cái bất động với bài "Thề non nước " (5). Đây là hai trong những bài thơ hay nhất của Tản Đà, biểu lộ tài năng của một
Hoài Việt Hoài
Thường tình thì chất lãng mạn trong thơ của Xuân Diệu thật khó đi đôi với lối phê phán hiện thực của Nguyễn công Hoan ; tính hài hước của Tú Mỡ cũng khác với kiểu tả chân độc đáo của Nguyễn Tuân. thế mà tất cả những văn thi sĩ đó đều nhận mình chịu ảnh hưởng của Tản Đà (1) ; ngay cả nhà viết tiểu thuyết lịch sử nổi tiếng là Nguyễn Triệu Luật cũng cho rằng : nếu mình làm nên sự nghiệp gì thì cũng là nhờ đọc Tản Đà hồi còn trẻ. Điều đó nói lên Tản Đà thật là một con người đa dạng : lãng mạn và hiện thực, hài hước và phê phán, hưởng lạc và yêu nước. Sự đa dạng về khuynh hướng đã đưa ông đến sự đa dạng về thơ, ông làm đủ loại thơ : đường luật, ca trù, thơ bảy chữ, thơ tự do.. Tản Đà là người có những dòng thơ "phong phú, lắm vẻ, đủ trang hoàng cho cả một giai đoạn văn học "(2), "người mà trong thi nghiệp của mình, đã một mình làm được cơn gió lạ "(3). Chúng ta sẽ cùng tìm hiểu người đó qua những khuynh hướng thi ca của ông . I. MỘT TÂM HỔN LÃNG MẠN Các nhà phê bình hiện đại đều đồng ý đặt Tản Đà làm gạch nối giữa hai thế hệ thơ cũ và thơ mới. Vì tuy xuất thân từ nề nếp Nho Phong cũ (4), tuy thông thạo các thể thơ cổ từ năm 14 tuổi, nhưng ông lại có một tâm hồn lãng mạn, sáng tạo ra những câu thơ không xa lạ lắm với dòng thơ mới về thể điệu, hình ảnh, ngôn ngữ, và nhất là tâm tình. Có lẽ sự lãng mạn đã có từ buổi thất tình với nàng Đỗ Thị ở phố Hàng Bồ, cộng thêm sự hỏng thi năm Nhâm Tý (1912) khi ông tròn 23 tuổi, đã đưa ông vào những "Giấc mộng con " và "Giấc mộng lớn", mơ lên hầu trời, gặp các danh nhân, đàn hát với các mỹ nhân, đi du lịch Âu Á . Và ở đây, chúng ta thấy cái lãng mạn của Tản Đà có phần khác các nhà thơ xưa, đã đành rằng ông chán nản vì thất tình, công danh lận đận, sống nghèo khổ. nhưng ông không ngồi thở than cùng trăng hoa mây gió, cũng không đến với thuyết Lão Trang để coi đời là bụi bặm, nơi ở trọ, và sống dửng dưng, ẩn dật. Nhưng là thái độ ham sống, mơ ứơc lên trời để giãi bày tâm sự với Hàn Thuyên, Nguyễn Trãi trong "Giấc mộng con ", là đi du lịch khắp nơi học hỏi cái hay của xưa người trong "Giấc mộng lớn ", là thích chơi : thơ, rượu, và ăn uống . Ai đã hay đâu tớ chán đời Đời chưa chán tớ, tớ còn chơi . (Còn chơi ) Và chính thái độ lãng mạn có vẻ tích cực này, đã đưa tài nghệ của nhà thơ lên cao, xứng đáng là "bậc đàn anh " của những nhà thơ mới, với những câu thơ tuyệt diệu: Trên trời Chức Nữ cùng Ngưu Lang Một giải sông Ngân lệ mấy hàng . (Thu khuê oán ) Như những thi sĩ của dòng thơ mới,ông nói nhiều về cái tôi của mình, nhưng là cái "tôi " thật dễ thương : Người ta hơn tớ cái phong lưu Tớ cũng hơn ai cái sự nghèo . Và cùng với ái tình, cái "tôi ", Tản Đà cũng nói nhiều về thiên nhiên với những hình ảnh và cách dùng chữ thật thần tình : Con sông chạy buột về Hà Nhớ ai Hà Nội trông mà ngùi thương . Nhưng đẹp nhất, giầu hình ảnh và nhạc điệu nhất, và biểu trưng cho thơ lãng mạn của Tản Đà là bài thơ "Tống biệt " . Đây là bài thơ các Tiên nữ tiễn đưa Lưu Thần và Nguyễn Triệu từ Thiên Thai trở về hạ giới; thế nhưng toàn bài chả thấy Tiên và cũng chả thấy người. Tác giả chỉ vẽ cảnh tiên cùng với những câu dài ngắn khác nhau như những "bước đi một bước, giây giây lại dừng " làm đậm thêm lòng lưu luyến; rồi thời gian như "nước chảy, huê trôi "sẽ làm cho cõi Tiên trở thành giấc mơ của một "trời đất từ nay xa cách mãi ", chỉ còn "bóng trăng chơi "một mình cô độc, "thơ thẩn " ở cõi trời, cõi đời, và ở trong lòng người. Nói như nhà văn Trương Tửu:"Trong nghề thơ có ba điều khó nhất : tả cái vô hình, tả cái bất động, và tả cái tối mù ; thì Tản Đà đã làm được hai :tả cái vô hình trong bài "Tống biệt ", tả cái bất động với bài "Thề non nước " (5). Đây là hai trong những bài thơ hay nhất của Tản Đà, biểu lộ tài năng của một
 






Các ý kiến mới nhất